10/09/2026

ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ DỊCH VỤ KẾ TOÁN TRONG BỐI CẢNH BÃI BỎ ĐIỀU KIỆN KINH DOAN

Chủ trương cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đổi mới phương thức quản lý nhà nước là yêu cầu cần thiết, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và các Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP, 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ.

Đối với dịch vụ kế toán, việc bãi bỏ giấy phép và các thủ tục tiền kiểm có thể góp phần giảm chi phí tuân thủ, hạ thấp rào cản gia nhập thị trường, mở rộng nguồn cung và thúc đẩy cạnh tranh. Sự thay đổi này đồng thời tạo điều kiện phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ linh hoạt, ứng dụng công nghệ và nền tảng số, qua đó nâng cao hiệu quả và giảm chi phí cung ứng. Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh - những đối tượng thường có nguồn lực kế toán hạn chế - sẽ có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ với phạm vi, phương thức và chi phí phù hợp.

I. Thay đổi căn bản của phương thức quản lý dịch vụ kế toán

1. Cơ chế kiểm soát điều kiện trước khi gia nhập thị trường

Pháp luật hiện hành quản lý dịch vụ kế toán chủ yếu theo cơ chế tiền kiểm. Cá nhân muốn hành nghề phải có chứng chỉ kế toán viên hoặc kiểm toán viên, đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm, đăng ký hành nghề và cập nhật kiến thức hằng năm. Doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải đáp ứng điều kiện về tổ chức, nhân sự và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, các chủ thể này còn phải thực hiện chế độ báo cáo, chịu sự quản lý hành nghề và kiểm soát chất lượng; nếu không duy trì đủ điều kiện hoặc có vi phạm có thể bị đình chỉ, thu hồi đăng ký hành nghề hoặc giấy chứng nhận.

2. Mở rộng quyền cung cấp dịch vụ và chuyển trọng tâm sang hậu kiểm

Dự thảo Luật gần đây đã bổ sung khái niệm “cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán” và “tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán”. Cá nhân được cung cấp dịch vụ dưới hình thức cá nhân hoặc thông qua tổ chức; tổ chức cung cấp dịch vụ bao gồm doanh nghiệp, hộ kinh doanh và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Quan hệ dịch vụ được xác lập chủ yếu trên cơ sở hợp đồng, quyền lựa chọn của khách hàng và trách nhiệm pháp lý của các bên.

  1. Quan điểm về phương án cải cách

Thống nhất với định hướng cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng nguồn cung và tăng quyền lựa chọn của người sử dụng dịch vụ; đồng thời chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát điều kiện trước khi gia nhập thị trường sang đề cao trách nhiệm trong quá trình cung cấp dịch vụ và hậu kiểm. Tuy nhiên, việc bãi bỏ các công cụ quản lý hiện hành cần được thực hiện đồng bộ với việc xác lập phương thức quản lý phù hợp, bảo đảm trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ được xác định rõ, thông tin và hồ sơ có khả năng truy xuất, người sử dụng có căn cứ lựa chọn, cơ quan quản lý có dữ liệu và công cụ hậu kiểm, đồng thời phát huy vai trò phù hợp của tổ chức nghề nghiệp. Việc hoàn thiện các nội dung này không nhằm hình thành điều kiện kinh doanh hoặc thủ tục cấp phép mới, mà để tránh khoảng trống pháp lý, hạn chế rủi ro phát sinh và bảo đảm phương án cải cách có thể vận hành hiệu quả trong thực tế.

II. Một số vấn đề thực tiễn đặt ra khi thay đổi phương thức quản lý dịch vụ kế toán

1. Bất cân xứng thông tin trong việc lựa chọn nhà cung cấp

Người sử dụng dịch vụ kế toán gồm doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các đơn vị kế toán khác. Những đơn vị có nguồn lực chuyên môn nội bộ hạn chế thường khó đánh giá được thực chất năng lực, kinh nghiệm, quy trình soát xét, đạo đức nghề nghiệp, khả năng bảo mật và chất lượng hồ sơ của nhà cung cấp.

2. Phạm vi công việc và trách nhiệm trong quá trình cung cấp dịch vụ

Một hợp đồng dịch vụ kế toán có thể có nhiều chủ thể tham gia: đơn vị thuê dịch vụ, bên giao kết hợp đồng, người trực tiếp thực hiện, người soát xét và người chịu trách nhiệm chuyên môn. Vướng mắc thường phát sinh khi hợp đồng không xác định rõ phạm vi công việc, hồ sơ phải cung cấp, sản phẩm bàn giao, thời hạn và trách nhiệm kiểm tra.

3. Quản lý hồ sơ và dữ liệu kế toán trong môi trường số

Dịch vụ kế toán ngày càng được thực hiện trên phần mềm, nền tảng điện toán đám mây và các hệ thống kết nối với hóa đơn điện tử, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm. Bên cung cấp có thể được giao tài khoản, chữ ký số và quyền truy cập vào dữ liệu quan trọng. Việc dùng tài khoản chung, phân quyền không rõ hoặc không lưu dấu vết sẽ gây khó khăn cho việc xác định trách nhiệm; công cụ tự động và trí tuệ nhân tạo cũng có thể làm sai sót lặp lại nếu kết quả không được kiểm tra.

4. Tác động vượt ra ngoài quan hệ hợp đồng và nguy cơ sai sót lặp lại

Số liệu kế toán và báo cáo tài chính được sử dụng để xác định nghĩa vụ thuế, cấp tín dụng, quyết định đầu tư và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Sai sót dịch vụ vì vậy có thể ảnh hưởng đến cả những chủ thể không trực tiếp tham gia hợp đồng. Khi một nhà cung cấp phục vụ nhiều đơn vị, cùng một cách xử lý không phù hợp, quy trình thiếu soát xét hoặc khiếm khuyết của phần mềm có thể được áp dụng lặp lại và tạo ra rủi ro có tính hệ thống.

5. Bổ sung đánh giá tác động và nguồn lực thực hiện

Đề nghị đánh giá đầy đủ hơn tác động của việc thay đổi phương thức quản lý đối với đơn vị thuê dịch vụ, các bên sử dụng thông tin kế toán và cơ quan kiểm tra, bên cạnh lợi ích từ việc cắt giảm thủ tục đối với chủ thể cung cấp. Nội dung đánh giá cần lưu ý khả năng lựa chọn nhà cung cấp, chất lượng thông tin kế toán, chi phí khắc phục sai sót, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, cần làm rõ nguồn lực phục vụ hậu kiểm, gồm nguồn dữ liệu, hạ tầng công nghệ, tiêu chí phân tích rủi ro, nhân sự kiểm tra và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Việc đánh giá cần tính đến cả nguồn lực tiết kiệm được từ bãi bỏ tiền kiểm và nguồn lực cần chuyển sang kết nối dữ liệu, phân tích, cảnh báo và kiểm tra theo rủi ro.

Đối với nhiệm vụ giao cho tổ chức nghề nghiệp, cần xác định rõ kết quả đầu ra, nguồn lực thực hiện, trách nhiệm báo cáo và cơ chế giám sát, bảo đảm nhiệm vụ được giao có khả năng triển khai trong thực tế. Việc huy động tổ chức nghề nghiệp tham gia thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn phù hợp cũng là một giải pháp tận dụng nguồn lực xã hội, nhưng không làm thay đổi trách nhiệm quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước.

Phạm Anh Ngọc – theo tạp chí Kế toán và Kiểm toán